Làm thế nào để có thể giành quyền nuôi cả 2 con khi ly hôn?
Khi hôn nhân không thể tiếp tục, câu hỏi khiến nhiều bậc cha mẹ băn khoăn nhất không chỉ là ly hôn như thế nào? mà là ai sẽ được trực tiếp nuôi con? Đặc biệt, với những gia đình có hai con thì mong muốn được chăm sóc, nuôi dưỡng và ở bên các con trọn vẹn sau ly hôn là điều hoàn toàn dễ hiểu. Vậy: Làm thế nào để có thể giành quyền nuôi cả 2 con khi ly hôn?
1. Làm thế nào để có thể giành quyền nuôi cả 2 con khi ly hôn?
Điều 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định: Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật này.
Đối chiếu với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình 2014:
- Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;
- Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con;
- Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
Vì vậy, một bên để có thể giành quyền nuôi cả 2 con khi ly hôn cần chứng minh những điều kiện sau:
1.1. Thu thập chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi con tốt hơn:
Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP quy định, khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình 2014 phải đánh giá khách quan, toàn diện các tiêu chí sau đây:
- Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột;
- Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi;
- Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ;
- Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con;đ) Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con;
- Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con;
- Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ.
Muốn giành quyền nuôi cả 2 con khi ly hôn, cha hoặc mẹ không thể chỉ trình bày bằng cảm xúc hay mong muốn cá nhân mà cần chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ cụ thể rằng mình có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con tốt hơn bên còn lại; đồng thời bảo đảm cho các con một môi trường sống ổn định về lâu dài.
Trước hết, cần chuẩn bị chứng cứ về năng lực tài chính để chứng minh khả năng bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho con như: Ăn ở, học tập, y tế, sinh hoạt… Các giấy tờ thường được Tòa án ghi nhận gồm: Hợp đồng lao động, quyết định bổ nhiệm, bảng lương, sao kê ngân hàng, chứng từ nộp thuế, giấy tờ kinh doanh… Việc chứng minh thu nhập nên theo hướng ổn định và hợp pháp, tránh trường hợp chỉ nêu “miệng” hoặc kê khai chung chung mà không kèm theo giấy tờ chứng minh.
Ngoài ra, chứng cứ về nơi ở ổn định và môi trường sống phù hợp cho trẻ cũng là một trong những giấy tờ cần cung cấp. Đây có thể là: Giấy tờ nhà đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy xác nhận cư trú, hoặc hợp đồng thuê nhà dài hạn kèm chứng từ thanh toán. Nếu con đang học tại một trường cụ thể thì việc chứng minh chỗ ở gần trường, thuận tiện đưa đón, an toàn và có không gian sinh hoạt phù hợp sẽ tạo lợi thế đáng kể.
Song song với điều kiện vật chất, cha/mẹ cần chứng minh khả năng chăm sóc con về mặt thời gian và tinh thần. Những tài liệu này bao gồm: Lịch trình đưa đón con, hồ sơ khám bệnh – tiêm chủng, giấy tờ trao đổi với giáo viên, hình ảnh tham gia hoạt động học tập – ngoại khóa, bằng chứng thể hiện việc trực tiếp chăm sóc con hằng ngày… Tòa án thường đánh giá rất cao người có sự gắn bó thực tế và tham gia sát sao vào quá trình nuôi dạy con.
Trường hợp bên còn lại có hành vi bạo lực gia đình, thiếu trách nhiệm, bỏ bê con, cản trở việc học hành hoặc có lối sống ảnh hưởng xấu đến trẻ, cần thu thập chứng cứ một cách bài bản và hợp pháp. Chứng cứ có thể gồm:


